Hotline: 0945 589 666

Quy trình thực hiện kiểm toán năng lượng

(5/5) - 66 bình chọn.
24/09/2021 58

 

Chi phí vận hành của 1 nhà máy là rất lớn, đặc biệt đối với những ngành có nhiều máy móc thiết bị, thì ngoài các chi phí khấu hao tài sản, chi phí thuê nhà xưởng,... thì chi phí sử dụng năng lượng cũng là một chi phí không hề nhỏ. Việc tối ưu hóa năng lượng là một vấn đề rất cần thiết. Vì thế đã có ra đời định nghĩa "Kiểm toán năng lượng". Qua bài viết này, Thành Nam sẽ hướng dẫn đến bạn đọc bài viết: Kiểm toán năng lượng là gì? Quy trình thực hiện Kiểm toán năng lượng.

1. Kiểm toán năng lượng là gì?

Theo điều 3 -Luật số: 50/2010/QH12 do Quốc Hội ban hành về: Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Năng lượng bao gồm nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng thu được trực tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo và tái tạo.

Kiểm toán năng lượng là hoạt động đo lường, phân tích, tính toán, đánh giá để xác định mức tiêu thụ năng lượng, tiềm năng tiết kiệm năng lượng và đề xuất giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với cơ sở sử dụng năng lượng.

Xem thêm: Kiểm toán năng lượng là gì? Cách xác định và Danh sách Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm

2. Quy trình thực hiện Kiểm toán năng lượng

A. QUY TRÌNH THỦ TỤC THỰC HIỆN KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG

I. TRÌNH TỰ THỦ TỤC CHI TIẾT

Trình tự thủ tục chi tiết thực hiện kiểm toán năng lượng được tóm tắt ở Hình 1.

Hình 1. Quy trình thủ tục chi tiết thực hiện kiểm toán năng lượng

Quy trình thực hiện Kiểm toán năng lượng

1.1. Xác định phạm vi kiểm toán năng lượng:

Cần xác định rõ về phạm vi công việc và nguồn lực có thể huy động để thực hiện kiểm toán năng lượng. Nguồn lực bao gồm nhân lực, thời gian và kinh phí. Căn cứ mức độ quan tâm, hỗ trợ và yêu cầu của lãnh đạo doanh nghiệp, nhóm kiểm toán xác định rõ phạm vi kiểm toán, khoanh vùng thiết bị/ dây chuyền công nghệ được kiểm toán, mức độ chi tiết của kiểm toán, dự báo khả năng tiết kiệm năng lượng, các cơ hội tiết kiệm năng lượng sẽ được thực hiện sau kiểm toán, việc cải thiện công tác vận hành, sửa chữa (O&M) nhờ kết quả kiểm toán năng lượng, nhu cầu đào tạo sau kiểm toán năng lượng hay các hoạt động khuyến khích khác, v.v… Trên cơ sở xác định rõ các vấn đề như vậy, kế hoạch kiểm toán năng lượng sẽ theo đó thực hiện.

1.2. Thành lập nhóm kiểm toán năng lượng:

Nhóm kiểm toán năng lượng được thành lập trên cơ sở:

a) Xác định rõ số lượng kiểm toán viên trong nhóm và nhiệm vụ cụ thể của mỗi người;

b) Mời các kỹ sư, kỹ thuật viên công nghệ của doanh nghiệp được kiểm toán năng lượng tham gia nhóm kiểm toán (trợ giúp trong việc cung cấp thông tin về tính năng thiết bị, tình hình vân hành, sửa chữa, v.v…);

Trong trường hợp lực lượng kiểm toán viên của doanh nghiệp không có đủ, cần phải thuê thêm chuyên gia kiểm toán năng lượng từ bên ngoài (từ các Trung tâm Tiết kiệm năng lượng, các trường đại học có khả năng và điều kiện về kiểm toán năng lượng theo luật định).

1.3. Ước tính khung thời gian và kinh phí:

Căn cứ vào khả năng nguồn lực, nhóm kiểm toán năng lượng phải xác định rõ khung thời gian và kinh phí cần cho kiểm toán. Kinh phí cho kiểm toán chủ yếu được tính toán dựa trên chi phí nhân công (số giờ các thành viên của nhóm kiểm toán bỏ ra từ khi tiến hành thu thập số liệu cho đến khi hoàn thành báo cáo kiểm toán năng lượng). Cần tính đến chi phí thuê dụng cụ đo lường và vật tư cần thiết trong trường hợp doanh nghiệp không có sẵn và chi phí thuê chuyên gia bên ngoài.

1.4. Thu thập dữ liệu có sẵn:

Các dữ liệu, thông tin cần thu thập bao gồm:

a) Đặc tính kỹ thuật của thiết bị, dây chuyền công nghệ sẽ được kiểm toán;(trong trường hợp các tòa nhà, cần chú ý đến diện tích các tầng, kết cấu xây dựng, hướng nhà, kết cấu mặt tiền, chủng loại và số lượng thiết bị sử dụng năng lượng, v.v…)

b) Quy trình vận hành thiết bị; các bản vẽ kỹ thuật, bản vẽ bố trí mặt bằng; hướng dẫn sửa chữa thiết bị, hướng dẫn thử nghiệm, biên bản đưa thiết bị vào vận hành;

c) Sổ sách, báo cáo về vận hành, tình hình sửa chữa thiết bị, các ghi chép số liệu đo lường về nhiệt độ, áp suất, dòng điện, số giờ vận hành, v.v…;

d) Sổ sách lưu trữ về các cơ hội tiết kiệm năng lượng đã thực hiện và dự kiến thực hiện;

đ) Ghi chép về tình hình sử dụng năng lượng, nhu cầu sử dụng cực đại;

e) Hóa đơn mua năng lượng trong ba năm cuối.

Về tổng thể, giả thiết rằng tại doanh nghiệp có lưu các tài liệu và các kỹ thuật viên có bảo quản các sổ sách ghi chép về đặc tính kỹ thuật của thiết bị, dây chuyền công nghệ và tình trạng vận hành. Nhóm kiểm toán cần xác định đúng các đối tác thích hợp để hợp tác thu thập dữ liệu, để thảo luận làm quen với hệ thống thiết bị, dây chuyền công nghệ sẽ được kiểm toán năng lượng, thảo luận chi tiết với người vận hành, người sử dụng năng lượng cuối cùng (ví dụ về mức độ hài lòng của người sử dụng đối với điều kiện vi khí hậu trong các tòa nhà, v.v…). Nhóm kiểm toán nên chuẩn bị sẵn bảng câu hỏi cho người sử dụng cuối cùng về các vấn đề quan tâm.

Sau khi đã thu thập đầy đủ hoặc có được phần lớn các thông tin về tính năng và trạng thái của thiết bị, dây chuyền công nghệ, cách thức sử dụng năng lượng, v.v…, nhóm kiểm toán có thể xác định các yêu cầu khảo sát bổ sung tiếp theo. Đến thời điểm này, kiểm toán viên phải nắm được các thông tin về đặc tính các thiết bị cơ bản như là:

- Sơ đồ khối biểu diễn dòng năng lượng, dòng sản phẩm vào/ra tại mỗi thiết bị, mỗi công đoạn công nghệ; thiết lập cân bằng năng lượng, cân bằng vật chất cho các đối tượng được kiểm toán (sơ đồ khối kiểu “hộp đen”); đặc tính vận hành của các thiết bị sử dụng năng lượng;

- Loại và đặc tính của lò hơi cấp nhiệt, của hệ thống cấp hơi;

- Loại và công suất của hệ thống lạnh, các đặc tính kỹ thuật (áp suất làm lạnh, nhiệt độ, lưu lượng nước làm mát và nhiệt độ, áp suất, v.v…);

- Kiểu, loại thiết bị của hệ thống điều hòa không khí, các thành phần trong hệ thống (bơm, quạt, máy nén, đường ống, v.v…), đặc tính vận hành (lưu lượng, nhiệt độ, áp suất, v.v…)

- Mức độ huy động các thiết bị, hệ thống thiết bị;

- Cơ chế kiểm soát đối với các thiết bị, hệ thống thiết bị (bộ điều khiển, thiết bị chấp hành, bộ cảm biến, logic điều khiển, v.v…);

- Loại thiết bị chiếu sáng, đặc tính kỹ thuật và cơ cấu điều khiển;

- Đặc tính của hệ thống phân phối điện;

- Đối với trường hợp kiểm toán tòa nhà, kiểm toán viên còn phải nắm được:

+ Đặc điểm của tòa nhà;

+ Đặc tính vận hành của hệ thống thang máy, thang cuốn (phân khu vực phục vụ, kiểu động cơ dẫn động, hệ thống điều khiển, v.v…);

Nhóm kiểm toán cần so sánh các đặc tính vận hành của thiết bị hiện tại với số liệu thiết kế hoặc so sánh với các tài liệu kỹ thuật liên quan nhằm phát hiện các khác biệt trong vận hành hiện tại so với yêu cầu thiết kế hay thông lệ kỹ thuật khác, phát hiện các khu vực đang gây lãng phí năng lượng. Các thông số so sánh bao gồm:

- Hiệu suất lò hơi, các tổn thất trong quá trình đốt nhiên liệu;

- Tổn thất trên đường ống cấp nhiệt (Pa/m)

- Hiệu suất các động cơ (%);

- Hiệu suất vận hành các bộ làm mát;

- Công suất điện của hệ thống quạt (kW/lít không khí cung cấp/giây);

- Hiệu suất các quạt gió (%);

- Hiệu suất các bơm (%);

- Hiệu suất các máy nén khí (%);

- Mật độ công suất chiếu sáng (W/m2);

- Độ rọi của hệ thống chiếu sáng (Lm/W);

- Tổn thất của hệ thống điều khiển chiếu sáng (W);

- V.v…

Đối với hệ thống cấp nhiệt, thông gió, điều hòa nhiệt độ (HVAC), khu vực lãng phí có thể xác định từ sổ ghi chép dữ liệu về thay đổi lưu lượng tương ứng với các thay đổi về nhiệt độ, áp suất. Đối với hệ thống cấp điện, khu vực lãng phí có thể xác định từ sổ ghi chép về dòng điện, điện áp. Trong trường hợp không có các sổ ghi chép, kiểm toán viên cần thực hiện các đo đạc để xác định các thiết bị/ hệ thống thiết bị nào làm việc kém hiệu quả. Số lượng các điểm đo được xác định căn cứ vào nhu cầu và khả năng thực tế.

1.5. Kiểm tra thực địa và đo đạc:

Các hoạt động chủ yếu bao gồm:

- Lập kế hoạch khảo sát cụ thể các khu vực, các thiết bị/ nhóm thiết bị cần khảo sát;

- Phân công công việc cho các thành viên trong nhóm kiểm toán;

- Cân nhắc việc phân nhóm phụ trách các khu vực, các thiết bị/ nhóm thiết bị.

Ví dụ như phân theo tầng nhà xưởng, theo công đoạn trong dây chuyền công nghệ, v.v… Việc phân nhóm cũng cần tính đến khả năng phân chia thiết bị đo lường có sẵn;

- Thiết kế bảng ghi chép số liệu đo theo logic, ghi lại các phát hiện;

- Thực hiện việc đo đạc theo kế hoạch nhằm bổ sung đủ dữ liệu hoặc kiểm tra lại dữ liệu đã thu thập được.

1.5.1. Xác định các điểm đo chiến lược:

Trong quá trình đo, các bộ cảm biến nên được lắp đặt tại các vị trí phản ánh sự cần thiết nhất hoặc vì chức năng của các thông số cần kiểm soát. Ví dụ để đo độ rọi trong văn phòng, lux kế nên đặt ở độ cao khoảng 0,8m cách sàn, nhiệt kế đặt ở độ cao khoảng 1,1m, còn bộ cảm biến đo áp suất và lưu lượng trong đường ống gió được chọn đặt tại các vị trí theo chỉ dẫn của các tài liệu kỹ thuật.

Đối với việc đo lưu lượng, thông thường trên hệ thống đã có đặt sẵn các lỗ đo chuẩn, ống đo và các giá đỡ. Trong trường hợp các điểm đo không được bố trí sẵn, nhóm kiểm toán phải tự lắp đặt các lỗ đo và các phụ kiện cần thiết phục vụ cho việc đo lường hoặc sử dụng các dụng cụ đo siêu âm. Thực ra, thông thường người ta không lắp đặt thêm đồng hồ đo lưu lượng hoặc chong chóng đo vào trong đường ống nước. Trong trường hợp đó, nhóm kiểm toán có thể sử dụng các thiết bị đã có sẵn như là ống đo đặt ở trước và sau bơm, đo áp suất của dòng chảy và tính ra lưu lượng, sử dụng biểu đồ tương quan giữa áp suất/ lưu lượng của bơm, van, đường ống, v.v… so với các hệ thống có kích thước tương tự.

1.5.2. Lắp đặt thiết bị đo:

Phần lớn các dữ liệu và đặc tính của thiết bị/ hệ thống thiết bị đã có thể thu thập được từ các kỹ sư, kỹ thuật viên O&M. Tuy nhiên, kiểm toán viên vẫn phải có các thiết bị đo cần thiết để đọc các thông số như nhiệt độ, áp suất, lưu lượng, độ rọi của hệ thống chiếu sáng, dòng điện, điện áp, v.v… Các thiết bị đo thông dụng trong kiểm toán năng lượng được liệt kê trong Bảng 1.

Bảng 1. Các thiết bị đo lường thông dụng phục vụ kiểm toán năng lượng

Thiết bị

Thông số đo/ Ghi chú

Đo điện

Volt kế (Voltmeter)

Đo điện áp

Am pe kế (Ammeter)

Đo dòng điện

Ôm kế (Ohmmeter)

Đo điện trở

Đồng hồ đo tổng hợp (Multi-meter)

Đo điện áp, dòng điện và điện trở

Oát kế (Wattmeter)

Đo công suất hiệu dụng (kW)

Đồng hồ đo hệ số công suất (Power factor meter)

Đo hệ số công suất/ tính toán công suất biểu kiến (kVA)

Lux kế (Light meter/ Lux meter)

Đo độ chiếu sáng (lux)

Đồng hồ phân tích chất lượng điện (Power quality analyser)

Phân tích sóng hài và các thông số điện khác

Đo nhiệt độ

Nhiệt kế (thermometer)

Đo nhiệt độ bầu khô (oC)

Ẩm kế treo/ nhiệt kế (Sling psychrometer/ thermometer)

Đo nhiệt độ bầu khô/ bầu ướt (oC)

Nhiệt kế điện tử xách tay (Portable electronic thermometer)

Súng đo nhiệt độ từ xa bằng cảm ứng hồng ngoại (Infrare remot temperature sensing gun)

Rất hữu ích để xác định tổn thất nhiệt do bảo ôn kém/ rò rỉ

Nhiệt kế kỹ thuật số có đầu dò nhiệt độ (Digital thermometer with temperature probe)

Đo nhiệt độ trong đường ống hơi/ không khí nóng (dùng đầu dò platin để đo nhiệt độ từ 0 đến 100 oC, cặp nhiệt ngẫu đo nhiệt độ đến trên 1200 oC)

Đo độ ẩm

Ẩm kế dây tóc (Hair hygrometer)

Đo độ ẩm/ nhiệt độ bầu ướt

Nhiệt kế kỹ thuật số (Digital thermometer)

Đo độ ẩm/ nhiệt độ bầu ướt

Đo áp suất và tốc độ

Áp kế kiểu ống Pito tĩnh (Pitostatic tube manometer)

Đo áp suất và tốc độ dòng không khí

Máy đo tốc độ gió kỹ thuật số có đầu dò (Digital type anemometer with probe)

Đo áp suất và tốc độ dòng không khí

Máy đo tốc độ gió kiểu van (Vane type anemometer)

Đo tốc độ không khí trong đoạn ống/ tại đầu vào/ đầu ra với tốc độ trong khoảng từ 0,25 đến 15 m/giây

Áp kế chất lỏng (Presure gauge)

Đo áp suất chất lỏng

Lưu tốc kế siêu âm có đầu dò với các vòng kẹp ống (Ultrasonic flow meter with pipe clamps)

Đo dòng chất lỏng/ tốc độ

Các dụng cụ đo khác

Bộ phân tích khói thải có đầu dò (Exhaus gas analyser with probe)

Đo nhiệt độ, hàm lượng O2, CO, CO2, Nox trong khói lò

Máy dò rò rỉ siêu âm (Ultrasonic leak detector)

Đo phát hiện rò rỉ khí nén

Máy dò rò rỉ hơi nước (Steam leak detector)

Đo phát hiện rò rỉ hơi nước

Máy dò rò rỉ khí ga (refrigerant leak detector)

Đo phát hiện rò rỉ môi chất làm lạnh

Máy đo vòng quay (Tahometer)

Đo tốc độ quay

1.6. Phân tích các số liệu thu thập được:

Nhóm kiểm toán khi đã thu thập được những thông tin về:

- Đặc tính các thiết bị/ hệ thống thiết bị thu được qua khảo sát thực địa;

- Các dữ liệu vận hành của các thiết bị/ hệ thống thiết bị thu thập được thông qua các sổ sách ghi chép;

- Các dữ liệu vận hành của các thiết bị/ hệ thống thiết bị thu thập được thông qua đo đạc tại hiện trường;

- Điều kiện vận hành các thiết bị/ hệ thống thiết bị dựa trên tài liệu thiết kế hoặc và các tài liệu kỹ thuật có liên quan khác.

Trên cơ sở các số liệu thu thập được, nhóm kiểm toán cần sàng lọc và tổ hợp các thông số với các giá trị, phân tích xu hướng giao động có thể sai khác so với thông số các thiết bị/ hệ thống thiết bị phải đạt được hoặc có thể đạt được. Đó chính là tiềm năng các cơ hội tiết kiệm năng lượng. Mặc dù vậy, cần phải thực hiện các phân tích thận trọng các khác biệt có thể gây ra trong trường hợp có thay đổi chế độ huy động vào vận hành, hoặc do các hoạt động khác gây ra.

1.6.1. Xác định tiềm năng tiết kiệm năng lượng:

Để xác định các giải pháp thực hiện đối với các tiềm năng tiết kiệm năng lượng được phát hiện, theo quy trình nhóm kiểm toán năng lượng phải tính toán để chứng minh bằng định lượng mức tiết kiệm năng lượng đối với từng giải pháp cải thiện được đề xuất thực hiện.

Giải pháp tiết kiệm năng lượng thông thường được phân chia theo ba nhóm:

Nhóm giải pháp

Chi phí

Nhóm I: Giải pháp tiết kiệm năng lượng không cần chi phí đầu tư

Bao gồm các giải pháp không cần chi phí đầu tư trong thực tế, không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của thiết bị/ dây chuyền công nghệ. Các giải pháp này bao gồm việc thay đổi hợp lý thao tác trong vận hành, hợp lý hóa dây chuyền sản xuất, sắp xếp ngăn nắp nhà xưởng, áp dụng các biện pháp đơn giản như tắt điều hòa nhiệt độ, tắt đèn, cắt điện cho thiết bị khi không sử dụng, đặt nhiệt độ điều hòa không khí trong phòng thích hợp, v.v…

Nhóm II: Giải pháp tiết kiệm năng lương có yêu cầu chi phí đầu tư thấp

Bao gồm các giải pháp cần chi phí đầu tư thấp, có thể làm gián đoạn không đáng kể hoạt động của thiết bị/ dây chuyền công nghệ, như lắp đặt thêm bộ điều khiển thời gian tắt, bật thiết bị/ đóng, cắt dây chuyền công nghệ, thay thế đèn chiếu sáng tiết kiệm điện, lắp thêm đồng hồ đo lường tại chỗ, v.v…

Nhóm III: Giải pháp tiết kiệm năng lượng có yêu cầu chi phí đầu tư cao

 Bao gồm các giải pháp cần chi phí đầu tư khá cao, có thể làm gián đoạn đáng kể hoạt động của thiết bị/ dây chuyền công nghệ, như lắp đặt thêm các bộ biến tần cho động cơ, lắp đặt thiết bị điều chỉnh hệ số công suất, thay thế, cải tạo lò hơi, các bộ làm mát (chillers), v.v…

1.6.2. Xác định chi phí đầu tư:

Khi tính toán hiệu quả của việc thực hiện các cơ hội tiết kiệm năng lượng, nhóm kiểm toán phải tính được chu kỳ hoàn vốn, giá trị hiện tại thuần (NPV) hoặc tỷ suất chiết khấu nội tại (IRR). Phần lớn các tính toán có thể sử dụng cách tiếp cận chu kỳ hoàn vốn giản đơn bằng cách lấy chi phí đầu tư cho các cơ hội tiết kiệm năng lượng chia cho giá trị tiết kiệm năng lượng, kết quả thu được là chu kỳ hoàn vốn giản đơn tính bằng năm. Mặc dù vậy, trong trường hợp có những khác biệt đáng kể giữa xu hướng thay đổi giá năng lượng và lãi suất hoặc nếu như chi phí đầu tư cho các cơ hội tiết kiệm năng lượng tỏ ra không hợp lý ở các giai đoạn khác nhau so với khả năng tiết kiệm năng lượng có thể đạt được ở các thời điểm khác nhau, nhóm kiểm toán cần phải thực hiện việc đánh giá chi phí vòng đời để nhìn nhận được tốt hơn hiệu quả đầu tư cho các cơ hội tiết kiệm năng lượng.

1.6.3. Chuẩn hóa dữ liệu:

Trên các hóa đơn mua năng lượng, các dữ liệu đo lường có thể không rơi vào cùng ngày giữa các tháng. Để so sánh chính xác hơn, đặc biệt khi các loại nhiên liệu khác nhau được đo vào các ngày khác nhau để tính hóa đơn, các dữ liệu này nên được bình thường hóa như là các số liệu ở những ngày thông thường.

1.6.4. Đảm bảo sự hoạt động bình thường của dây chuyền công nghệ:

Kiểm toán năng lượng nhằm mục đích cải thiện hiệu suất năng lượng. Tuy vậy một cơ hội tiết kiệm năng lượng không thể làm xấu đi chất lượng hoạt động của thiết bị/ hệ thống thiết bị, hạ thấp dưới tiêu chuẩn thiết kế.

II. MỨC ĐỘ CHI TIẾT TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG

Mức độ chi tiết trong quy trình thực hiện kiểm toán năng lượng liên quan đến phạm vi kiểm toán và mức độ chi tiết của các khảo sát phải thực hiện, các phát hiện nào cần phải phân tích. Căn cứ vào nguồn lực được bố trí, kích cỡ của đối tượng phải kiểm toán năng lượng, mục đích của cuộc kiểm toán năng lượng, kiểm toán viên lựa chọn cách thức, mức độ kiểm toán năng lượng cho phù hợp. Có hai mức khảo sát, đánh giá khi thực hiện kiểm toán năng lượng:

a) Khảo sát, đánh giá sơ bộ;

b) Khảo sát, đánh giá chi tiết.

Về tổng thể, kiểm toán năng lượng bao gồm bước nghiên cứu đơn giản một thiết bị/ nhóm thiết bị chính; sau đó là bước nghiên cứu kỹ hầu như toàn bộ các thiết bị/ hệ thống thiết bị trong dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp.

2.1. Khảo sát, đánh giá sơ bộ:

Các hoạt động này cần huy động nguồn lực tối thiểu để kiểm tra các cơ hội tiết kiệm năng lượng có thể đã được dự kiến trước, có khả năng thực hiện ngay các giải pháp. Nhóm kiểm toán năng lượng thực hiện một khảo sát nhanh. Một số các thiết bị/ nhóm thiết bị sử dụng năng lượng chính cần chú ý khi đi khảo sát lướt qua như lò hơi và hệ thống cấp nhiệt, các bộ làm mát (chillers), các động cơ và cách thức hoạt động, sử dụng đèn trong hệ thống chiếu sáng, v.v…Tham khảo các catalô của thiết bị, các sổ ghi chép về vận hành, cẩm nang hướng dẫn sửa chữa sẽ rất hữu ích trong việc xác định nhanh ở khu vực nào các thiết bị/ nhóm thiết bị làm việc kém hiệu quả. Một vài tính toán đơn giản cần thực hiện để định lượng khả năng tiết kiệm khi thực hiện các giải pháp tiết kiệm năng lượng. Việc thực hiện chỉ cần một đến hai ngày, do một kiểm toán viên hoặc một nhóm nhỏ kiểm toán viên thực hiện, phụ thuộc vào kích cỡ và mức độ phức tạp của dây chuyền công nghệ và phạm vi khảo sát. Một số thiết bị đo đơn giản cần có như là nhiệt kế thủy ngân, các bộ đồng hồ đo tổng hợp, lux kế để phục vụ cho các đo lường kiểm tra cần thiết.

Thông qua bước này nhóm kiểm toán phải xác định yêu cầu khảo sát, đánh giá chi tiết cho nhóm thiết bị/ một số phân xưởng hay toàn doanh nghiệp.

2.2. Khảo sát, đánh giá chi tiết:

Nhóm kiểm toán kiểm tra tỷ mỉ hầu hết các thiết bị/ hệ thống thiết bị, phát hiện được càng nhiều cơ hội tiết kiệm năng lượng càng tốt, phân loại theo nhóm, lập kế hoạch đề xuất thực hiện trình lãnh đạo doanh nghiệp. Bước khảo sát, đánh giá chi tiết thường đòi hỏi thời gian nhiều gấp 5-10 lần so với bước khảo sát, đánh giá sơ bộ, tùy thuộc vào mức độ phức tạp của thiết bị/ hệ thống thiết bị và kích cỡ của đối tượng cần kiểm toán.

 

Qua bài viết này, Thành Nam đã hướng dẫn bạn đọc cùng tìm hiểu:  Kiểm toán năng lượng là gì? Quy trình thực hiện Kiểm toán năng lượng.

Nếu các bạn đọc có câu hỏi gì, hãy để ở dưới phần bình luận, đội ngũ chuyên gia của Thành Nam luôn sẵn sàng để hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc từ phía độc giả.


Với hơn 20 năm kinh nghiệm trong ngành Kiểm toán, Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Đất Việt là một trong số ít các Công ty có thể thực hiện các Dịch vụ Kiểm toán năng lượng với đội ngũ nhân sự bài bản, được đào tạo chuyên sâu.

Hãy liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 0945589666. Để nhận được các tư vấn và triển khai Quy trình Kiểm toán năng lượng chuyên nghiệp nhất.

Dịch vụ Kiểm toán - Dịch vụ Kế toán - Công ty Kiểm toán Đất Việt - Chi nhánh Thành Nam
Bài viết liên quan

0945 589 666

Chat Zalo